Xử phạt xâm phạm quyền riêng tư: Mức xử phạt đối với người vi phạm
Sự riêng tư và bí mật đời tư là giá trị danh dự của mỗi cá nhân, được Hiến pháp cùng pháp luật bảo vệ nghiêm ngặt. Dù vậy, những hành vi tự ý quay lén, chia sẻ tin nhắn hay phát tán hình ảnh cá nhân lên mạng xã hội vẫn diễn ra công khai như một thói quen vô hại. Không ít người chỉ coi đây là trò đùa bộc phát, nhưng thực tế hậu quả pháp lý lại vô cùng nặng nề. Vậy mức xử phạt xâm phạm quyền riêng tư như thế nào? Bài viết này sẽ phân tích chi tiết quy định xử phạt xâm phạm quyền riêng tư mới nhất giúp bạn chủ động bảo vệ bản thân, bạn đọc có thể tham khảo.
1. Quyền riêng tư theo pháp luật
Theo khoản 1 Điều 21 của Hiến pháp và Điều 38 Bộ luật Dân sự 2015, đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình là bất khả xâm phạm và được pháp luật bảo vệ tuyệt đối. Việc thu thập, lưu giữ, sử dụng, công khai thông tin liên quan đến đời tư cá nhân phải được người đó đồng ý.
Bất kỳ hành vi nào tự ý can thiệp, tiết lộ hoặc phát tán các thông tin này mà không được sự cho phép (trừ trường hợp luật định vì lý do an ninh, quốc phòng) đều vi phạm pháp luật và sẽ đối mặt với các hình thức xử phạt xâm phạm quyền riêng tư.
Điều 20.
1. Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về sức khỏe, danh dự và nhân phẩm; không bị tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể, sức khỏe, xúc phạm danh dự, nhân phẩm.

Điều 38. Quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình
1. Đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình là bất khả xâm phạm và được pháp luật bảo vệ.
2. Việc thu thập, lưu giữ, sử dụng, công khai thông tin liên quan đến đời sống riêng tư, bí mật cá nhân phải được người đó đồng ý, việc thu thập, lưu giữ, sử dụng, công khai thông tin liên quan đến bí mật gia đình phải được các thành viên gia đình đồng ý, trừ trường hợp luật có quy định khác.
3. Thư tín, điện thoại, điện tín, cơ sở dữ liệu điện tử và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác của cá nhân được bảo đảm an toàn và bí mật.
Việc bóc mở, kiểm soát, thu giữ thư tín, điện thoại, điện tín, cơ sở dữ liệu điện tử và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác của người khác chỉ được thực hiện trong trường hợp luật quy định.
4. Các bên trong hợp đồng không được tiết lộ thông tin về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình của nhau mà mình đã biết được trong quá trình xác lập, thực hiện hợp đồng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
Xem thêm: Đăng tin không đúng sự thật lên mạng xã hội bị phạt bao nhiêu tiền?

2. Mức xử phạt xâm phạm quyền riêng tư
Tùy thuộc vào tính chất, mức độ nghiêm trọng và hậu quả thực tế gây ra, mà người thực hiện hành vi xâm phạm quyền riêng tư sẽ bị áp dụng mức phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự:
2.1. Xử phạt hành chính (Phạt tiền)
Nhiều trường hợp vi phạm chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự sẽ bị áp dụng chế tài phạt tiền theo Nghị định 15/2020/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 14/2022/NĐ-CP) và khung pháp lý bảo vệ dữ liệu cá nhân hiện hành:
- Vi phạm quy định về thu thập, sử dụng thông tin cá nhân tại khoản 1 Điều 84, nếu thực hiện một trong các hành vi thu thập thông tin cá nhân khi chưa có sự đồng ý của chủ thể thông tin cá nhân về phạm vi, mục đích của việc thu thập và sử dụng thông tin đó sẽ bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng, mức phạt này áp dụng với tổ chức (cá nhân vi phạm bị phạt từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng theo khoản 3 Điều 4).
- Vi phạm các quy định về trách nhiệm sử dụng dịch vụ mạng xã hội; trang thông tin điện tử được thiết lập thông qua mạng xã hội tại khoản 1 Điều 101, nếu thực hiện một trong các hành vi cung cấp, chia sẻ thông tin giả mạo, thông tin sai sự thật, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của cơ quan, tổ chức, danh dự, nhân phẩm của cá nhân người khác sẽ bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng, mức phạt này áp dụng với tổ chức (cá nhân vi phạm bị phạt từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng theo khoản 3 Điều 4).
Bên cạnh việc bị xử phạt xâm phạm quyền riêng tư bằng tiền nộp vào ngân sách nhà nước, người vi phạm còn phải chịu trách nhiệm dân sự đối với nạn nhân theo Điều 592 Bộ luật Dân sự 2015 như sau:
- Bồi thường thiệt hại thực tế (chi phí hạn chế, khắc phục thiệt hại, thu nhập bị mất…).
- Bồi thường tổn thất về tinh thần cho nạn nhân (mức tối đa do các bên thỏa thuận, nếu không thỏa thuận được thì tối đa không quá 10 lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định).
- Xin lỗi, đính chính công khai.
2.2. Truy cứu trách nhiệm hình sự
Khi hành vi xâm phạm đời tư gây hậu quả nghiêm trọng, ảnh hưởng nặng nề đến danh dự, nhân phẩm, công việc hoặc tính mạng người khác, cơ quan điều tra sẽ không dừng lại ở mức xử phạt xâm phạm quyền riêng tư bằng hành chính mà sẽ khởi tố vụ án hình sự:
- Tội xúc phạm danh dự người khác (Điều 155 BLHS): Người nào xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác, thì bị phạt cảnh cáo, phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm. Trong trường hợp gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên hoặc làm nạn nhân tự sát thì bị phạt tù từ 02 năm đến 05 năm.
- Tội xâm phạm bí mật hoặc an toàn thư tín, điện thoại, điện tín hoặc hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác của người khác (Điều 159 BLHS): Bị phạt cảnh cáo, phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng hoặc hoặc phạt tù lên đến 03 năm.