Hành vi chiếm đoạt tài sản nhà nước là gì? Biện pháp xử lý
Tài sản công là nguồn lực quan trọng phục vụ cho sự phát triển kinh tế – xã hội và quốc phòng an ninh, đòi hỏi quy trình quản lý phải tuyệt đối nghiêm ngặt, công khai và minh bạch. Tuy nhiên, trên thực tế vẫn tồn tại những sơ hở bị lợi dụng để thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản nhà nước nhằm trục lợi bất chính. Vậy biểu hiện cụ thể của sai phạm này là gì và người vi phạm sẽ phải đối mặt với các chế tài hành chính, hình sự nghiêm khắc như thế nào? Để biết câu trả lời xin mời bạn đọc tham khảo bài viết dưới đây.
1. Hành vi chiếm đoạt tài sản nhà nước va mức xử lý
Theo khoản 5 Điều 3 Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí 2013 quy định:
Tài sản nhà nước là tài sản hình thành từ ngân sách nhà nước hoặc do pháp luật quy định thuộc sở hữu, quản lý của Nhà nước, bao gồm: trụ sở làm việc, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất; máy móc, phương tiện vận tải, trang thiết bị làm việc; tài sản từ nguồn viện trợ, tài trợ, đóng góp của tổ chức, cá nhân trong nước và ngoài nước cho Nhà nước và các tài sản khác do pháp luật quy định.
Có thể hiểu, hành vi chiếm đoạt tài sản nhà nước là hành vi cố ý chuyển dịch trái pháp luật tài sản thuộc quyền quản lý hoặc sở hữu của Nhà nước thành tài sản của cá nhân hoặc tổ chức nhằm mục đích vụ lợi.
Nói cách khác, đây là hành vi làm cho tài sản công không còn thuộc sự quản lý hợp pháp của Nhà nước mà bị cá nhân hoặc tổ chức sử dụng, kiểm soát hoặc hưởng lợi trái phép.

Hành vi chiếm đoạt có thể được thực hiện bằng nhiều phương thức khác nhau như:
- Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;
- Gian dối trong quản lý tài sản công;
- Lập chứng từ khống;
- Tham ô tài sản;
- Biển thủ tài sản;
- Chiếm giữ trái phép tài sản được giao quản lý;
- Sử dụng thủ đoạn để chuyển dịch tài sản nhà nước sang sở hữu tư nhân.
- …
Tùy từng trường hợp cụ thể, hành vi chiếm đoạt tài sản nhà nước có thể bị xử lý hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự.
1.1. Mức xử phạt hành chính
Nếu hành vi chiếm đoạt, sử dụng trái phép tài sản công chưa đến mức nghiêm trọng (bao gồm việc chiếm giữ, sử dụng tài sản của Nhà nước vào mục đích cá nhân, trái phép) để bị truy cứu hình sự, Tòa án và các cơ quan chức năng sẽ áp dụng Điều 9 Nghị định 63/2019/NĐ-CP được được sửa đổi bởi Khoản 5 Điều 1 Nghị định 55/2026/NĐ-CP như sau:
1. Phạt tiền đối với hành vi cho mượn, sử dụng tài sản công không đúng quy định (cho tổ chức, cá nhân khác sử dụng tài sản công không phân biệt có hợp đồng cho mượn hay không có hợp đồng cho mượn, không phân biệt thời hạn cho mượn) theo các mức phạt sau:
a) Từ 1.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng trong trường hợp cho mượn tài sản có giá trị dưới 100.000.000 đồng;
b) Từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng trong trường hợp cho mượn tài sản có giá trị từ 100.000.000 đồng trở lên;
c) Từ 50.000.000 đồng đến 60.000.000 đồng trong trường hợp cho mượn tài sản là trụ sở làm việc, cơ sở hoạt động sự nghiệp, xe ô tô.
2. Biện pháp khắc phục hậu quả:
Tổ chức có hành vi vi phạm quy định tại khoản 1 Điều này còn bị áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả sau:
a) Buộc hoàn trả lại tài sản;
b) Buộc nộp vào ngân sách nhà nước số tiền tương ứng với số tiền thuê tài sản trong thời gian cho mượn. Việc xác định số tiền thuê tài sản để làm căn cứ xử phạt thực hiện theo quy định tại khoản 4 Điều 7 Nghị định này.

1.2. Truy cứu trách nhiệm hình sự
Tùy từng hành vi chiếm đoạt tài sản nhà nước trong thực tế mà người vi phạm thực hiện sẽ áp dụng tội danh tương ứng quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017, 2025 (BLHS). Nếu người thực hiện hành vi là người có chức vụ, quyền hạn thì mức phạt sẽ cực kỳ nặng:
1.2.1. Tội tham ô tài sản (Điều 353 BLHS)
Đây là hành vi điển hình của việc một người lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình trong cơ quan nhà nước để chiếm đoạt tài sản mà mình có trách nhiệm quản lý, cụ thể:
1. Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản mà mình có trách nhiệm quản lý trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
a) Đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm;
b) Đã bị kết án về một trong các tội quy định tại Mục 1 Chương này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
a) Có tổ chức;
b) Dùng thủ đoạn xảo quyệt, nguy hiểm;
c) Phạm tội 02 lần trở lên;
d) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;
đ) Chiếm đoạt tiền, tài sản dùng vào mục đích xóa đói, giảm nghèo; tiền, phụ cấp, trợ cấp, ưu đãi đối với người có công với cách mạng; các loại quỹ dự phòng hoặc các loại tiền, tài sản trợ cấp, quyên góp cho những vùng bị thiên tai, dịch bệnh hoặc các vùng kinh tế đặc biệt khó khăn;
e) Gây thiệt hại về tài sản từ 1.000.000.000 đồng[339] đến dưới 3.000.000.000 đồng;
g) Ảnh hưởng xấu đến đời sống của cán bộ, công chức, viên chức và người lao động trong cơ quan, tổ chức.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 15 năm đến 20 năm:
a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng; b) Gây thiệt hại về tài sản từ 3.000.000.000 đồng đến dưới 5.000.000.000 đồng; c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;
d) Dẫn đến doanh nghiệp hoặc tổ chức khác bị phá sản hoặc ngừng hoạt động.
4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù 20 năm hoặc tù chung thân:
a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 1.000.000.000 đồng trở lên;
b) Gây thiệt hại về tài sản 5.000.000.000 đồng trở lên.
5. Người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 01 năm đến 05 năm, có thể bị phạt tiền từ 60.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
6. Người có chức vụ, quyền hạn trong các doanh nghiệp, tổ chức ngoài Nhà nước mà tham ô tài sản, thì bị xử lý theo quy định tại Điều này.
Có thể thấy đối với tội tham ô tài sản mức phạt cao nhất có thể lên đến 20 năm tù hoặc tù chung thân nếu tài sản chiếm đoạt trị giá 1.000.000.000 đồng trở lên hoặc gây thiệt hại về tài sản 5.000.000.000 đồng trở lên.
1.2.2. Tội vi phạm quy định về quản lý, sử dụng tài sản Nhà nước gây thất thoát, lãng phí (Điều 219 BLHS)
Đối với các đối tượng được giao quản lý tài sản công nhưng thực hiện sai quy định dẫn đến việc tài sản bị chiếm đoạt, thất thoá sẽ bị xử lý theo Điều 219 BLHS, cụ thể:
1. Người nào được giao quản lý, sử dụng tài sản Nhà nước mà vi phạm chế độ quản lý, sử dụng tài sản, gây thất thoát, lãng phí từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng hoặc dưới 100.000.000 đồng nhưng đã bị xử lý kỷ luật hoặc xử phạt vi phạm hành chính[174] về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 12 năm:
a) Vì vụ lợi;
b) Có tổ chức;
c) Dùng thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt;
d) Gây thất thoát, lãng phí[175] từ 300.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng.
3. Phạm tội gây thất thoát, lãng phí[176] 1.000.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 20 năm.
4. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
Đối với người phạm tội này có thể đối mặt với khung hình phạt cao nhất lên đến 20 năm tù nếu gây thiệt hại từ 1.000.000.000 đồng trở lên.
Do đó, đối với tài sản của Nhà nước (tài sản công), toàn bộ quy trình từ khâu mua sắm, kê khai, bố trí sử dụng cho đến thanh lý đều được kiểm soát gắt gao bằng hệ thống kế toán công và số hóa. Mọi hành vi mang tính chất chuyển tài sản công thành tài sản tư mà không có quyết định phê duyệt của cơ quan có thẩm quyền đều tiềm ẩn rủi ro pháp lý rất lớn.
3. Vì sao hành vi chiếm đoạt tài sản nhà nước bị xử lý nghiêm khắc?
Khác với việc xâm phạm tài sản của cá nhân hoặc doanh nghiệp, hành vi chiếm đoạt tài sản nhà nước gây ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích chung của toàn xã hội. Những hậu quả có thể phát sinh bao gồm:
- Gây thất thoát ngân sách nhà nước;
- Làm giảm hiệu quả đầu tư công;
- Ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ công;
- Làm suy giảm niềm tin của người dân đối với cơ quan nhà nước;
- Tác động tiêu cực đến môi trường quản trị và phát triển kinh tế.
Chính vì vậy, pháp luật Việt Nam luôn có các quy định nghiêm khắc nhằm phòng ngừa và xử lý các hành vi xâm phạm tài sản công.