Bạo hành về tinh thần gì? Mức phạt đối với hành vi này ra sao?
Bạo hành về tinh thần (bạo lực gia đình) không đơn thuần là những lời to tiếng trong lúc nóng giận, mà là một hành vi vi phạm pháp luật có hệ thống, xâm phạm đến quyền nhân thân của con người. Với sự ra đời của Luật Phòng, chống bạo lực gia đình 2022 và các văn bản pháp luật khác có liên quan, hành lang pháp lý để bảo vệ nạn nhân của bạo lực tinh thần đã trở nên chặt chẽ và cụ thể hơn bao giờ hết.
1. Hành vi bạo hành về tinh thần
Theo quy định tại Điều 3 Luật Phòng, chống bạo lực gia đình 2022, bạo lực tinh thần được nhận diện qua các hành vi điển hình sau đây:


- Lăng mạ, chì chiết hoặc hành vi cố ý khác xúc phạm danh dự, nhân phẩm;
- Cưỡng ép chứng kiến bạo lực đối với người, con vật nhằm gây áp lực thường xuyên về tâm lý;
- Kỳ thị, phân biệt đối xử về hình thể, giới, giới tính, năng lực của thành viên gia đình;
- Ngăn cản thành viên gia đình gặp gỡ người thân, có quan hệ xã hội hợp pháp, lành mạnh hoặc hành vi khác nhằm cô lập, gây áp lực thường xuyên về tâm lý;
- Tiết lộ hoặc phát tán thông tin về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân và bí mật gia đình của thành viên gia đình nhằm xúc phạm danh dự, nhân phẩm.
Lưu ý: Nhiều người vẫn lầm tưởng bạo hành tinh thần chỉ xảy ra giữa vợ chồng. Thực tế, pháp luật mở rộng phạm vi đối với cả cha mẹ, con cái, anh chị em và ngay cả những người đã ly hôn nhưng vẫn còn liên quan vì con cái.
2. Mức xử lý hành vi bạo hành tinh thần
Tùy vào tính chất, mức độ và hậu quả gây ra, người có hành vi bạo hành về tinh thần đối với thành viên trong gia đình sẽ phải chịu trách nhiệm hành chính hoặc trách nhiệm hình sự.
2.1. Phạt tiền hành chính
Phạt tiền là hình thức xử lý phổ biến đối với các hành vi vi phạm lần đầu hoặc mức độ tổn thương chưa nghiêm trọng. theo quy định tại Mục 3 Vi phạm hành chính về phòng, chống bạo lực gia đình tại Nghị định 228/2025/NĐ-CP, mức phạt tiền cụ thể như sau:
Theo Điều 39 Nghị định 228/2025/NĐ-CP đối với hành vi xúc phạm danh dự, nhân phẩm của thành viên gia đình: Bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng, tùy mức độ hành vi gây ra mà áp dụng mức phạt tiền tương ứng.
1. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với hành vi lăng mạ, chì chiết hoặc hành vi cố ý khác xúc phạm danh dự, nhân phẩm thành viên gia đình, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.
2. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với hành vi tiết lộ hoặc phát tán thông tin về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình của thành viên gia đình nhằm xúc phạm danh dự, nhân phẩm.
3. Biện pháp khắc phục hậu quả:
a) Buộc xin lỗi công khai khi người bị bạo lực gia đình có yêu cầu tại nhà riêng, nơi làm việc, địa điểm khác hoặc trên phương tiện thông tin đại chúng đối với hành vi vi phạm quy định tại các khoản 1 và 2 Điều này;
b) Buộc thu hồi tư liệu, tài liệu, tờ rơi, bài viết, hình ảnh đối với hành vi vi phạm quy định tại khoản 2 Điều này.


Theo Điều 40 Nghị định 228/2025/NĐ-CP đối với hành vi cưỡng ép, cản trở, cô lập, giam cầm, gây áp lực thường xuyên về tâm lý: Bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng, tùy hành vi cụ thể mà áp dụng mức phạt tương đương.
1. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:
a) Ngăn cản thành viên gia đình gặp gỡ người thân, có quan hệ xã hội hợp pháp, lành mạnh hoặc hành vi khác nhằm cô lập, gây áp lực thường xuyên về tâm lý;
b) Kỳ thị, phân biệt đối xử về hình thể, giới tính, năng lực của thành viên gia đình;
c) Ngăn cản việc thực hiện quyền, nghĩa vụ trong quan hệ gia đình giữa ông, bà và cháu hoặc giữa cha, mẹ và con hoặc giữa vợ và chồng hoặc giữa anh, chị, em với nhau;
d) Cưỡng ép thành viên gia đình học tập quá sức.
2. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau:
a) Cưỡng ép thành viên gia đình phải chứng kiến bạo lực đối với người, con vật nhằm gây áp lực thường xuyên về tâm lý;
b) Cưỡng ép thành viên gia đình nghe âm thanh, xem hình ảnh, đọc nội dung kích thích bạo lực.
3. Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với hành vi cô lập, giam cầm thành viên gia đình, trừ trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều này.
4. Các hành vi vi phạm hành chính: cưỡng ép tảo hôn, kết hôn, ly hôn hoặc cản trở kết hôn, ly hôn hợp pháp chưa được quy định tại Nghị định này được xử lý, xử phạt theo quy định tại Nghị định của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp; hành chính tư pháp; hôn nhân và gia đình; thi hành án dân sự; phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan.
5. Biện pháp khắc phục hậu quả:
Buộc xin lỗi công khai khi người bị bạo lực gia đình có yêu cầu tại nhà riêng, nơi làm việc, địa điểm khác hoặc trên phương tiện thông tin đại chúng đối với hành vi vi phạm quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều này.
2.2. Truy cứu trách nhiệm hình sự
Trong các trường hợp bạo hành về tinh thần kéo dài gây hậu quả nghiêm trọng như khiến nạn nhân rối loạn tâm thần hoặc dẫn đến tự sát, người vi phạm có thể bị truy cứu các tội danh sau:
Tội làm nhục người khác (Điều 155 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017, 2025): Nếu hành vi xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác, thì bị phạt cảnh cáo, phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.
Tội ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu hoặc người có công nuôi dưỡng mình (Điều 185 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017, 2025), mức hình phạt cao nhất lên đến 05 năm tù giam.
Tội bức tử (Điều 130 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017, 2025): Nếu hành vi đối xử tồi tệ, làm nhục thường xuyên khiến nạn nhân tự sát, mức phạt có thể lên đến 07 năm tù. Đối với nạn nhân là 02 người trở lên; người dưới 16 tuổi; phụ nữ mà biết là có thai thì mức phạt có thể lên đến 12 năm tù giam.
Việc hiểu đúng và nhận diện sớm hành vi bạo hành về tinh thần này không chỉ giúp nạn nhân tự bảo vệ mình mà còn góp phần ngăn chặn những hệ lụy nghiêm trọng cho gia đình và xã hội. Mỗi cá nhân cần nâng cao ý thức pháp luật để xây dựng môi trường sống an toàn, tôn trọng và nhân văn hơn.
